Thứ hai - 01/06/2020 01:11
Vướng mắc trong giải quyết tranh chấp
“Hợp đồng vay, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
 yêu cầu hủy bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”
 
Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, xã hội càng phát triển sẽ tỷ lệ thuận với các quan hệ pháp luật. Mọi quan hệ pháp luật đều là mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó được thể hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Vì vậy, nội dung của quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn tồn tại những mối quan hệ pháp luật còn nhiều bất cập và cần phải đưa ra trao đổi để có hướng giải quyết cụ thể. Bài viết sau đây sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.

Tình huống: Anh Nguyễn Văn B có vay của anh Nguyễn Văn A số tiền 500 triệu đồng, thời hạn là 01 năm, lãi suất 5%/ năm. Đến thời hạn trả nợ, nhưng anh B vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Qua nhiều lần yêu cầu anh B trả nợ mà không thực hiện, anh Nguyễn Văn A khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện X yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết, anh Nguyễn Văn B thỏa thuận với anh Nguyễn Viết C, là anh C sẽ trả số tiền 100 triệu vay Ngân hàng thay cho anh B, rồi anh B lấy lại giấy CNQSDĐ đã thế chấp tại Ngân hàng, sau đó sẽ lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh C với giá 150 triệu. Anh C đã trả nợ ngân hàng thay cho anh B và lấy giấy CNQSDĐ. Anh B và anh C đến Văn phòng Công chứng Y lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và anh C đã trả thêm 50 triệu cho anh B như đã thỏa thuận, nhưng anh B không trả nợ cho anh A (anh B không còn tài sản nào khác). Lúc này, anh A phát hiện và gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện X áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”; đồng thời yêu cầu Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh B và anh C. Tòa án huyện X đã ra QĐ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với hình thức phong tỏa diện tích đất mà anh B đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho anh C. Anh C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và anh B.

Từ tình huống trên đã có 02 quan điểm giải quyết khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Viết C, vì các lý do sau:

Một là, Xét về góc độ pháp lý thì anh C thực hiện giao dịch với anh B là ngay tình vì anh C không biết được việc thực hiện giao dịch với anh B là anh B đã che giấu nghĩa vụ nhằm tẩu tán tài sản; đồng thời khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì anh C phải trả nợ Ngân hàng (100 triệu) thay cho anh B, để lấy giấy CNQSDĐ mà anh B đã thế chấp vay trước đó, rồi mới thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và có công chứng. Xét về yếu tố lỗi thì anh C khi tham gia giao dịch không có cơ sở và không buộc phải biết người giao dịch là che giấu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với anh A. Như vậy, anh C hoàn toàn không có lỗi khi tham gia vào giao dịch. Trong khi đó, như nhận định bởi Tòa Califonia, cũng như Patricia Youngblood Reyhan: Chính chủ sở hữu tài sản ban đầu là người có lỗi trong việc tạo ra hoàn cảnh làm cho người ngay tình tham gia giao dịch (Tạp chí Tòa án nhân dân, ngày 11/10/2018 có tựa đề: "Bảo vệ người ngay tình trong giao dịch quyền sử dụng đất" của Châu Thị Khánh Vân - Phó Khoa Luật Kinh tế Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng thời, tại thời điểm anh B và anh C giao dịch với nhau, không có một quyết định nào hoặc văn bản nào xác định diện tích đất này bị hạn chế giao dịch. Do vậy, đứng từ nhiều góc độ khác nhau việc bảo vệ người ngay tình trong trường hợp này là đúng với luật định.

Hai là, từ tình huống trên ta có thể thấy diện tích đất của anh B chuyển nhượng cho anh C là đất không có tranh chấp, trước khi chưa có phán quyết của Tòa án và quyết định thi hành án thì anh B có quyền thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho anh C.

Ba là, việc thực hiện giao dịch đã được công chứng, chứng thực mà chứng thực được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của các cá nhân, thông tin cá nhân để bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong quan hệ dân sự.
Tại khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng 2014 quy định: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”.

Bốn là, theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ:
“Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…”. Cho nên khi xem xét trường hợp của anh B thì anh B chuyển dịch tài sản cho anh C là hoàn toàn được pháp luật bảo bộ và không có căn cứ để Tòa án đưa ra biện pháp ngăn chặn tạm thời cũng như hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh B và anh C.
Vì vậy, cần phải hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Viết C là có căn cứ, đúng pháp luật.

Quan điểm thứ Hai: Duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Viết C. Bởi vì:

Thứ nhất,  tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”.
Theo đó, khi anh B và anh C làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nghĩa là anh B đã có hành vi trốn tránh nghĩa vụ đối với anh A và hành vi đó được xem là hành vi tẩu tán tài sản theo quy định của pháp luật. Do đó, anh A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện X áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và việc Tòa án áp dụng biện pháp này là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Thứ hai, không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh B và anh C bởi vì căn cứ vào quy định của pháp luật dân sự thì hợp đồng trên là vô hiệu. Bởi lẽ:
Bản chất của hợp đồng là một giao dịch dân sự, do vậy để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.
“Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về giao dịch dân sự bị vô hiệu:
“Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1….
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”.
Hợp đồng giữa anh B và anh C vô hiệu là do việc anh B “bán đất” nhưng không thanh toán nghĩa vụ trả nợ mà anh đã vay anh A từ trước, có hành vi tẩu tán tài sản, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh A. Không thể cho rằng anh B chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh C để trả tiền cho anh A vì nếu anh B có thiện chí trả nợ thì anh A đã không phải đến khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc anh B đã phải thông báo trước cho anh A về việc chuyển nhượng diện tích đất nói trên để trả nợ.
Chúng tôi nhận thấy quan điểm thứ hai là hoàn toàn hợp lý: Tòa án nhân dân phải duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Viết C.

Xuất phát từ hai quan điểm trên và những bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án tương tự trên địa bàn tỉnh, nên chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, liên ngành cấp trên cần thống nhất ban hành văn bản hướng dẫn hoặc phối hợp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm về vấn đề này để làm cơ sở và nền tảng cho các Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cấp dưới áp dụng một cách thống nhất và hoàn chỉnh, để hạn chế tối đa những thiếu sót, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.

Hai là, tăng cường kết hợp, hiện thực hóa giữa lý luận và thực tiễn. Sở dĩ, thực tiễn diễn ra những vấn đề hết sức phức tạp và đa dạng nên lý luận không thể giải quyết và đáp ứng kịp thời thực tiễn, làm cho những quan hệ tranh chấp không được giải quyết một cách thống nhất và triệt để.

Ba là, về góc độ người thứ ba, khi tiến hành giao dịch dân sự với người khác, cần phải xem xét kỹ càng, toàn diện về đối tác, nhất là về nợ phải trả, nghĩa vụ phải thực hiện và đặc biệt là tình trạng của tài sản đang giao dịch để hạn chế tối đa rủi ro của bản thân.

Với tình huống nêu trên và có quan điểm khác nhau về giải quyết, rất mong nhận được sự quan tâm cũng như ý kiến trao đổi của các anh, chị đồng nghiệp để bản thân rút kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện hơn.





 
 

Tác giả bài viết: Hoàng Khang, Văn Lâm (SV thực tập)

Nguồn tin: VKSND huyện Phú Tân (G)

Tổng số điểm của bài viết là: 38 trong 9 đánh giá

Xếp hạng: 4.2 - 9 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-

Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP

Thời gian đăng: 16/06/2020

lượt xem: 237 | lượt tải:45

60/2020/NĐ-CP

Nghị định số 60/2020/NĐ-CP

Thời gian đăng: 10/06/2020

lượt xem: 190 | lượt tải:18

Luat cong an nhan dan 2018

Luat cong an nhan dan 2018

Thời gian đăng: 26/03/2019

lượt xem: 819 | lượt tải:93

LBVBMNN 2018

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018

Thời gian đăng: 16/06/2019

lượt xem: 837 | lượt tải:75

Luat an ninh mang 2018

Luat an ninh mang 2018

Thời gian đăng: 26/03/2019

lượt xem: 783 | lượt tải:108

Thong tu LT 01-2018

Thong tu LT 01-2018

Thời gian đăng: 24/03/2019

lượt xem: 654 | lượt tải:180

QĐ V/v ban hanh danh muc mua sam tai san co

QĐ V/v ban hanh danh muc mua sam tai san cong tap trung trong nganh KSND

Thời gian đăng: 24/03/2019

lượt xem: 815 | lượt tải:238

09-HD-VKSTC ve cong tac thong ke va CNTT 2018

Huong dan 09-HD-VKSTC ve cong tac thong ke va cong nghe thong tin nam 2018

Thời gian đăng: 13/02/2019

lượt xem: 609 | lượt tải:365

Huong dan 09-HD-VKSTC ve cong tac thong ke va cong

Huong dan 09-HD-VKSTC ve cong tac thong ke va cong nghe thong tin nam 2018

Thời gian đăng: 24/03/2019

lượt xem: 665 | lượt tải:142

Huong dan 05-HD-VKSTC ve cong tac kiem sat thi han

Huong dan 05-HD-VKSTC ve cong tac kiem sat thi hanh an dan su, thi hanh an hanh chinh

Thời gian đăng: 24/03/2019

lượt xem: 909 | lượt tải:188
Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập26
  • Hôm nay4,244
  • Tháng hiện tại6,585
  • Tổng lượt truy cập781,369
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây