Thứ năm - 14/03/2019 07:55
Trao đổi về việc định tội danh của Nguyễn Tuấn T
 
Nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ ngày 03/12/2017, Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1996 chơi bắn bi cùng Lê Văn Y (sinh năm 2004), Nguyễn Thái L (sinh năm 2006 ), ngụ cùng xóm tại ấp 2, xã V, thị xã C, tỉnh A. Lúc này, T thấy Y có cầm 01 điện thoại di động, trị giá 3.000.000 đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đến nhà Y và thấy Y nằm ngủ, để điện thoại di động trên nền gạch, ngay phía dưới giường ngủ. Lợi dụng cửa nhà không đóng, T đi vào lấy trộm điện thoại của Y đem về nhà, xóa toàn bộ dữ liệu trong máy, thay đổi mật khẩu, ốp lưng điện thoại, vứt bỏ sim số của Y và gắn sim số khác vào để sử dụng.

Khoảng 9 giờ ngày 04/12/2017, Y điều khiển xe đạp chở L đến khu vực đình VX chơi. Y thấy T đang sử dụng điện thoại di động có đặc điểm giống điện thoại của Y nên hỏi mượn. Qua xem đặc điểm vết nứt trên mặt kính cường lực, Y xác định điện thoại T sử dụng là của Y bị mất trộm trước đó. Lúc này, T nói với Y rằng điện thoại đưa Y xem là do T mua của người khác với giá 300.000 đồng. Y yêu cầu T dẫn Y đến gặp người bán để hỏi sự việc. Trên đường đi tìm người bán, Y điều khiển xe đạp bị té, làm L bị thương tích, nên Y đưa L đến Trạm y tế xã băng bó vết thương, rồi đi về nhà. Sau đó, T gỡ mặt kính cường lực trên màn hình điện thoại của Y vứt bỏ và tiếp tục đến đình VX chơi.

Khoảng 20 phút sau, Y về đến nhà kể lại sự việc cho ông N (ông ngoại của Y) biết. Nghi ngờ T lấy trộm điện thoại của Y, ông N đến nhà T nói chuyện với bà C (mẹ ruột của T) và yêu cầu T trả lại điện thoại cho Y. Bà C bảo T sang nhà ông N để làm rõ sự việc. Tại đây, T đưa điện thoại đã lấy của Y cho ông N xem và nói do T mua của người khác. Ông N không chỉ ra được đặc điểm nhận dạng để khẳng định điện thoại là của Y nhưng vẫn lấy cất vào tủ, đồng thời nói với T Mày mua 1 tao thường mày 2” rồi bỏ đi. T cũng bỏ đi về nhà.

Khoảng 10 phút sau, T thấy Lê Văn H (sinh năm 2005, em của Y) đang cầm điện thoại trên, ngồi chơi trò chơi điện tử trước nhà của ông N. Cho rằng sau khi gỡ bỏ kính cường lực của chiếc điện thoại, thì Y và ông N không chỉ ra được đặc điểm để khẳng định điện thoại là của mình nên T chạy đến chỗ H giật lấy lại điện thoại. Bị giật bất ngờ, H liền giật lại thì bị T xô ngã xuống đất và dùng chân đạp vào bụng, giật lấy điện thoại từ tay H rồi đi về nhà. H không bị thương tích gì. Ngay sau đó, H nói lại sự việc cho ông N biết. Ông N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã C trình báo. Tại Cơ quan điều tra, T đã thừa nhận hành vi lấy điện thoại của Y như đã nêu. Việc T tiếp tục dùng vũ lực đối với H là nhằm lấy lại điện thoại, vì T cho rằng Y và ông N không có cơ sở để chứng minh điện thoại là của Y.

Hiện vụ án trên có nhiều quan điểm về tội danh:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: 
Hành vi trên Nguyễn Tuấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp tài sản”. Bởi vì:
+ T đã lợi dụng đêm tối, trong lúc mọi người trong nhà của Y ngủ say và cửa nhà không đóng, đã đột nhập vào lấy trộm điện thoại của Y, đem về thay đổi đặc điểm để sử dụng nên hành vi này của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Sau khi bị ông N (ông ngoại Y) nghi vấn T lấy trộm và lấy lại điện thoại đem cất, thì T không phản ứng gì mà bỏ đi về. Sau đó, thấy H (em của Y) cầm chiếc điện thoại này chơi trò chơi điện tử, T đã dùng vũ lực đối với H, để lấy lại điện thoại. Hành vi này của T đã cấu thành tội “Cướp tài sản”.

- Quan điểm thứ hai cho rằng: 
Chỉ xử lý Nguyễn Tuấn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Bởi vì:
T đã có hành vi lén lút, đột nhập vào nhà của Y, lấy trộm điện thoại trị giá 3.000.000 đồng. Hành vi này của T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội phạm đã hoàn thành. Sau khi lấy trộm điện thoại của Y xong, T đã thay đổi đặc điểm điện thoại để sử dụng và để Y không nhận ra điện thoại của mình. Thực tế, khi ông N lấy điện thoại, cũng không chỉ ra được đặc điểm nào để khẳng định điện thoại do T đưa là của Y, mà chỉ nói Mày mua 1 tao thường mày 2”. Chính vì vậy, T nghĩ khi ông N và Y không chứng minh được điện thoại là của Y nên T đã dùng vũ lực với H để lấy lại “tài sản của mình”. Do đó, nếu xử lý T thêm tội “Cướp tài sản” là không phù hợp với ý thức chủ quan của T. Mặt khác, đối tượng phạm tội trong vụ án này chỉ là một tài sản.

- Quan điểm thứ ba cho rằng: 
Hành vi trên của Nguyễn Tuấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Bởi vì:
Sau khi đột nhập vào nhà lấy được điện thoại của Y, thì hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy Y và ông N không chỉ ra được đặc điểm nhận dạng để chứng minh chiếc điện thoại là của Y nhưng về bản chất chiếc điện thoại vẫn là tài sản của Y. Sau khi ông N lấy lại điện thoại đem cất, T lại tiếp tục dùng vũ lực để chiếm đoạt điện thoại từ tay H. Do vậy, hành vi trộm cắp tài sản của T đã chuyển hóa thành tội “Cướp tài sản” như quy định tại Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS; tiểu mục 6.2 mục 6 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999.

Trên đây, là một số quan điểm trao đổi về hành vi phạm tội của Nguyễn Tuấn T rất mong nhận được ý kiến trao đổi từ các đồng nghiệp.

Tác giả bài viết: Trọng Hữu

Nguồn tin: Phòng 1

  Ý kiến bạn đọc

Bạn cần trở thành thành viên của nhóm để có thể bình luận bài viết này. Nhấn vào đây để đăng ký làm thành viên nhóm!

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập4
  • Hôm nay433
  • Tháng hiện tại12,094
  • Tổng lượt truy cập241,785
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây