Thứ tư - 02/10/2019 16:20
Trao đổi bài viết: Về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử”

Qua nghiên cứu 2 bài viết của tác giả Trọng Hữu, Quốc Toản về quan điểm trong xác định tội danh đối với A là tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” hay tội “Trốn khi đang bị áp giải” (ngoài tội Trộm cắp tài sản) đăng trên trang điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang. Phòng 8, xin nêu lên một số vấn đề để cùng có nghiên cứu, trao đổi thêm.

Trước đây theo quy định tại Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, xét xử” thì A có thể bị xem xét xử lý về hành vi “Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc tội trốn khi đang bị dẫn giải…” tùy vào việc đang bị giam, giữ hay dẫn giải như 2 tác giả đã phân tích, đánh giá về các căn cứ, quy định pháp luật…

Tuy nhiên, hiện nay Điều 386 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định rõ và chặt chẽ hơn về chủ thể của tội danh này. Cụ thể  Điều 386 đã quy định “Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải … mà bỏ trốn” thì mới phạm tội như Điều Luật quy định, khác với quy định tại Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 là “Người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải…”

Do chủ thể của tội phạm này được coi là chủ thể đặc biệt, bao gồm những người đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp giải, đang bị xét xử (tại địa điểm mở phiên tòa) hoặc đang chấp hành án phạt tù vì nó có liên quan trực tiếp đến tội “Thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù bỏ trốn” theo Điều 376 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trước đây, thống kê phạm vi toàn quốc cho thấy tỷ lệ khởi tố bị can đối với tội danh này xảy ra nhiều, đặc biệt là khi đối tượng bị giam, giữ tại trụ sở Công an cấp xã (trong các vụ án đánh bạc… bắt quả tang). Tuy nhiên, thì đối với những người trực tiếp canh coi, quản lý các đối tượng này lại không bị xử lý hình sự theo Điều 301 Bộ luật hình sự năm 1999.

Do vậy, câu chữ, từ ngữ đối với tội danh tại Điều 386 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được quy định rõ, chặt chẽ hơn để phù hợp, đồng bộ với các quy định pháp luật liên quan. Cụ thể:

- Khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 3 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã giải thích rõ:
1. Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ.
4. Cơ sở giam giữ là nơi tổ chức giam giữ, quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bao gồm trại tạm giam, nhà tạm giữ, buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng.
- Điểm k, điểm l khoản 1 Điều 4 và Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 giải thích và hướng dẫn:
k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
l) Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.

Điều 127. Áp giải, dẫn giải
1. Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:
a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
3. Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.
4. Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
5. Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.
6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.

Trên cơ sở các quy định trên, để xác định chính xác A có phạm tội theo Điều 386 Bộ luật hình sự không? nếu có thì là tội nào trong quy định của Điều 386. Xin cùng trao đổi thêm.


 

Tác giả bài viết: Phòng 8

Nguồn tin: Phòng 8

  Ý kiến bạn đọc

Bạn cần trở thành thành viên của nhóm để có thể bình luận bài viết này. Nhấn vào đây để đăng ký làm thành viên nhóm!

Những tin cũ hơn

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập49
  • Hôm nay286
  • Tháng hiện tại11,947
  • Tổng lượt truy cập241,638
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây